Các liệu pháp tâm lý

ĐẠI CƯƠNG TÂM LÝ LÂM SÀNG

Tâm lý lâm sàng phát triển là kết quả của nhu cầu của thầy thuốc để điều trị các bệnh nhân tâm thần, nó cũng là kết quả của sự phát triển của tâm lý học. Vào năm 1896 Witmer đã thành lập phòng khám tâm lý ở trường đại học Pennsylvania. Ông cũng đã thành lập tờ báo tâm lý lâm sàng đầu tiên với tên là Psychological clinic. Đến năm 1914 có hơn 26 phòng khám tâm lý trên toàn nước Mỹ. Tâm lý lâm sàng đã phát triển trong các bệnh viện tâm thần và làm việc cùng với bác sĩ tâm thần để điều trị các bệnh nhân tâm thần. Những thành tựu của Freud và Breuer đã giải thích các rối loạn tâm thần bằng các vấn đề tâm lý

1. Lịch sử của tâm lý lâm sàng

Tâm lý lâm sàng phát triển là kết quả của nhu cầu của thầy thuốc để điều trị các bệnh nhân tâm thần, nó cũng là kết quả của sự phát triển của tâm lý học. Vào năm 1896 Witmer  đã thành lập phòng khám tâm lý ở trường đại học Pennsylvania. Ông cũng đã thành lập tờ báo tâm lý lâm sàng đầu tiên với tên là Psychological clinic. Đến năm 1914 có hơn 26 phòng khám tâm lý trên toàn nước Mỹ. Tâm lý lâm sàng đã phát triển trong các bệnh viện tâm thần và làm việc cùng với bác sĩ tâm thần để điều trị các bệnh nhân tâm thần. Những thành tựu của Freud và Breuer đã giải thích các rối loạn tâm thần bằng các vấn đề tâm lý. Vai trò của các nhà tâm lý lâm sàng phát triển trong sướt chiến tranh thế giới lần thứ I; khi mà quân đội cần các nhà tâm lý lâm sàng đánh giá tâm lý cho các binh lính mới. trước năm 1940, bác sĩ tâm thần thực hiện các liệu pháp tâm lý cá nhân cho bệnh nhân, còn nhà tâm lý lâm sàng chủ yếu là đánh giá sức khoẻ tâm thần. Tuy nhiên mãi đến chiến tranh thế giới lần thứ II, tình hình này đã thay đổi khi số bệnh nhân bị "Shock nhà tù." gia tăng. Lúc này nhu cầu  nhà tâm lý lâm sàng gia tăng để điều trị các bệnh nhân từ chiến tranh trở về. Từ đó tâm lý lâm sàng khu trú vào các kỹ năng lâm sàng giữa người và người. Nhiều trường phái khác nhau đã phát triển sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Đầu tiên là học thuyết Freud, tiếp theo là chủ nghĩa nhân văn và cuối cùng tập trung vào hành vi và nhận thức.Liệu pháp tâm lý đã được phát triển trong những năm 1970 bởi sự phát triển của liệu pháp hành vi nhận thức và mới đây
 
2. Định nghĩa về tâm  lý lâm sàng

Có rất nhiều định nghĩa về tâm lý lâm sàng, nhưng ở đây chúng tôi chỉ đưa ra 4 định nghĩa được dùng phổ biến nhất.
 
2.1. Định nghĩa của Lightner Witmer năm 1912: Các phương pháp tâm lý lâm sàng dùng để quan sát và thực nghiệm cần thiết được dùng để xác định tâm trí của một cá nhân và điều trị bằng giáo dục được áp dụng để tạo nên sự thay đổi. Nhiều nhà tâm lý học xem đay là định nghĩa ban đầu của tâm lý lâm sàng . Witmer định nghĩa tâm lý lâm sàng như là môn khoa học thực sự quan tâm đến việc nghiên cứu của từng cá nhân bằng cách quan sát và thực nghiệm với mục đích là là tạo thuận lợi cho việc thay đổi của các cá nhân này. Bởi vì ông ta làm việc với các học sinh, đây là những đối tượng có vấn đề về học tập do đó ông cho rằng điều trị tâm lý chủ yếu là giáo dục
 
2.2. Của Hội tâm lý Mỹ năm 1935: Tâm lý lâm sàng là một dạng tâm lý ứng dụng nhằm mực đích xác định các khả năng hành vi và đặc trưng hành vi của một cá nhân thông qua các phương pháp đo lường, phân tích và quan sát; trên cơ sở diễn giải các dữ liệu thu thập được đưa ra những gợi ý và lời khuyên  để chấn chỉnh thích hợp cho cá nhân. Khác với định nghĩa trước, nó không chú trọng nhiều đến giáo dục trong điều trị cho bệnh nhân.
 
2.3. Của Hội tâm lý Mỹ năm 1981: Nhà tâm lý lâm sàng là một người chuyên nghiệp áp dụng các nguyên lý và phương pháp để hiểu, tiên đoán, và loại trừ các vấn đề về trí tuệ, cảm xúc , tâm lý và hành vi.  Định nghĩa này đã nêu lên vị trí của nhà tâm lý lâm sàng. Ngoài hai nhiệm vụ như 2 định nghĩa trên đề cập đến, theo định nghĩa này nhà tâm lý lâm sàng còn có nhiệm vụ là tiên đoán sự việc xảy ra để có phương pháp dự phòng. Và trong định nghĩa này cũng chỉ rõ các lãnh vực tâm lý mà nhà tâm lý lâm sàng phải chú ý; đó là các vấn đề về trí tuệ, cảm xúc, tâm lý và hành vi.
 
2.4. Của Hội tâm lý Mỹ năm 2000: Tâm lý lâm sàng lồng ghép khoa học, lý thuyết và thực hành với nhau để hiểu, tiên đoán và loại bỏ sự kém thích ứng, bất lực và khó chịu cũng như làm cho con người thích ứng, thích nghi và phát triển. Tâm lý lâm sàng tập trung vào các mặt chức năng trí tuệ, cảm xúc, sinh học, tâm lý, xác hội và hành vi của con người trong khoảng đời người, trong mọi nền văn hoá và trong mọi tầng lớp xã hội.
 
Theo định nghĩa này chúng ta chú ý đến các vấn đề sau:
 
- Sự lồng ghép giữa khoa học, lý thuyết và thực hành: đây là một môn khoa học nghĩa là nó có căn cứ khoa học của nó và được nghiên cứu một cách khoa học. Nó không chỉ là lý thuyết suôn mà nó phải có ý nghĩa thực tiễn. Thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm các lý thuyết. Để kiểm chứng điều này thì phải có các công trình nghiên cứu mang tính khoa học cao.
 
- Ngoài mục đích là loại bỏ các sự kém thích ứng, bất lực và khó chịu; tâm lý lâm sàng còn giúp cho cá nhân phát triển con người. Như vậy ngoài chức năng điều trị, tâm lý lâm sàng còn có chức năng dự phòng tránh các bệnh tật về tâm lý.
 
- Tâm lý lâm sàng quan tâm đến mọi lứa tuổi, mọi nền văn hoá và mọi tầng lớp. 
 
3.Nhiệm vụ của người làm tâm lý lâm sàng:
 
Trong các bệnh viện tâm thần ngoài các bác sĩ chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho bệnh nhân còn có một đối tượng nữa đó là các nhà tâm lý lâm sàng. Vai trò của tâm lý lâm sàng trong các bệnh viện tâm thần:
 
3.1.Giúp công tác chẩn đoán, theo dõi bệnh tâm thần: Tâm lý lâm sàng cung cấp những trắc nghiệm tâm lý và các bảng đánh giá để giúp hỗ trợ công tác chẩn đoán và theo dõi diễn tiến của bệnh. Đó cũng như là các xét nghiệm cận lâm sàng, nó giúp thấy thuốc các thông tin khách quan hơn để chẩn đoán và theo dõi bệnh. Trong khám bệnh tâm thần, chủ yếu thầy thuốc hỏi bệnh nhân, do đó thường mang tính chất chủ quan. Để hạn chế tính chủ quan này, tâm lý lâm sàng đưa ra các bảng câu hỏi cấu trúc để thăm khám bệnh nhân. Bên cạnh đó có những trắc nghiệm tâm lý để đánh giá các lãnh vực sức  khoẻ tâm thần như tư duy, cảm xúc, trí nhớ, trí tuệ…
 
3. 2. Tham gia công tác điều trị cho bệnh nhân: Có nhiều bệnh tâm thần có căn nguyên tâm lý, do đó giải quyết vấn đề tâm lý cho bệnh nhân là rất cần thiết. Như các bệnh nhân bị rối loạn stress sau sang chấn, ngoài dùng các thuốc hướng thần, bệnh nhân còn phải được điều trị bằng các liệu pháp tâm lý như liệu pháp hành vi nhận thức. Bên cạnh đó khi các bệnh nhân bị các bệnh tâm thần tâm lý của ho bị thay đổi; họ không thể quay trở lại cuộc sống bình thường trước đây được. Do đó giải quyết tâm lý cho họ là một vấn đề phải đặt ra để chất lượng cuộc sống của họ không bị thay đổi nhiều.
 
3.3. Dự phòng: Đây là một nhiệm vụ khó khăn nhưng có giá trị cao trong việc bảo về sức khoẻ tâm thần cho người dân. Như các chương trình chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho học sinh nhằm trang bị các kiến thức cơ bản về sức khoẻ tâm thần cho học sinh và giáo viên; trên cơ sở đó giáo viên nhận diện được sớm các bất thường về tâm lý của học sinh và biết cách xử lý các tình huống đó. Đồng thời học sinh cũng nhận thức được tầm quan trong của sức khoẻ tâm thần và có hành động phù hợp để tự bảo vệ sức khoẻ tâm thần. Ngoài ra có các chương trình tuyên truyền bảo về sức khoẻ cho cộng đồng.
3.4. Tham vấn: Nhà tâm lý lâm sàng tham gia công tác tham vấn cho các nhà chuyên môn khác. Như các nhà tâm lý lâm sàng tham vấn cho các giáo viên cách làm việc với học sinh. Có khi họ cho các nhà doanh nghiệp các lời khuyên. Đồng thời giúp cho nhiều học sinh biết được các kỹ năng và khả năng của bản thân từ đó có hướng để chọn nghề nghiệp cho phù hợp.

3.5. Nghiên cứu: Đây là nhiệm vụ thể hiện tính khoa học của tâm lý lâm sàng. Muốn biết được các kinh nghiệm bản thân về lãnh vực này thực sự có ý nghĩa khoa học không, nhà tâm lý lâm sàng phải tiến hành các nghiên cứu khoa học. Đặc biệt trong hoàn cảnh Việt Nam nhiệm vụ này phải được ưu tiên hơn nữa vì tất cả các lý thuyết, kinh nghiệm đểu xuất phát từ các nước phương Tây, do đó khi áp dụng tại Việt Nam sẽ như thế nào. Chỉ có nghiên cứu khoa học là trả lời được các câu hỏi lớn này.

4.Hiện trạng và tương lai của tâm lý lâm sàng ở Việt Nam

4.1. Hiện trạng của ngành tâm lý lâm sàng ở Việt Nam:
 
- Vai trò của nhà tâm lý lâm sàng trong bệnh viện: từ khi ngành tâm thần được thành lập ở Việt Nam đến những năm cuối của thế kỷ 20 trong các bệnh viện tâm thần không thấy bóng dáng của các nhà tâm lý lâm sàng. Đến khi Viện nghiên cứu tâm lý trẻ em do Giáo sư Nguyễn Khắc Viên được thành lập, đã hình thành sự nối kết giữa các bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý (không phải là nhà tâm lý lâm sàng). Cho đến mặc dù trong một số bệnh viện đã có các nhà tâm lý tham gia công tác chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho bệnh nhân, nhưng trong bệnh viện tâm thần vẫn chưa có chức danh của nhà tâm lý lâm sàng. Trong các bệnh viện các nhà tâm lý chủ yếu hỗ trợ để sử dụng một số các đánh giá tâm lý và thực hiện các sinh hoạt nhóm. Đa số chưa phát triển đầy đủ nhiệm vụ của mình.
 
- Công tác đào tạo: từ trước đến nay có nhiều bác sĩ chuyên khoa Tâm thần được đào tạo tại các nước Xã hội chủ nghĩa cũ về tâm lý lâm sàng. Trên cơ sở đó đã giảng dạy lại cho các bác sĩ chuyên khoa tâm thần một số kiến thức nhất định về tâm lý lâm sàng. Trong nước có nhiều cơ sở đào tạo cử nhân tâm lý, nhưng không có nơi nào đào tạo cử nhân tâm lý lâm sàng. Thời gian gần đây để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, một số khoa tâm lý của trường đại học đã mở các khoá đào tạo tâm lý lâm sàng nhưng được hướng dẫn bởi các người không được đào tạo chuyên về tâm lý lâm sàng. Gần đây được sự hợp tác của các chuyên gia tâm lý lâm sàng của Mỹ, Pháp, Bĩ..có nhiều khoá tập huấn về tâm lý lâm sàng đã được tiến hành và có nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý lâm sàng được thực hiện

4.2. Tương lai của ngành tâm lý lâm sàng: Trong giai đoạn kinh tế phát triển các rối loạn tâm thần liên quan vấn đề tâm lý ngày càng gia tăng. Thuốc không thể giải quyết hoàn toàn các vấn đề đó, vì vậy nhu cầu sự phát triển tâm lý lâm sàng đang phát triển. Vì vậy hiện nay tại các bệnh viện đã tuyển dụng nhiều nhà tâm lý vào làm việc mặc dù đó không phải là nhà tâm lý lâm sàng. Có nhiều tổ chức nước ngoài đã có chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tâm lý lâm sàng cho các trường đại học, từ đó chúng ta có nguồn nhân lực để đào tạo đội ngũ các nhà tâm lý lâm sàng trong nước.

5. Kết luận: Tâm lý lâm sàng là một khoa học kết hợp lý thuyết và thực hành nó góp phần chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho người dân. Mặc dù hiện tại nước ta ngành tâm lý lâm sàng chưa được phát triển nhưng với nguồn lực hiện có và sự giúp đỡ của nước ngoài nó sẽ ngày càng khẳng định vai trò của mình trong các bệnh viện tâm thần ở Việt Nam
Hình ảnh
Liên kết website
Liên hệ
BỆNH VIỆN TÂM THẦN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Địa chỉ  : 193 Nguyễn Lương Bằng, P.Hòa Khánh Bắc, Q.Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, Việt Nam

Số điện thoại:
 0511.3.842.326

Email: tutrung.lttrungdn@gmail.com