Rối loạn lo âu

Tồng quan về rối loạn lo âu

TỔNG QUAN VỀ RỐI LOẠN LO ÂU

Mục tiêu:

-      Học viên có khái niệm cơ bản về rối loạn lo âu  đặc biệt rối loạn lo âu lan toả

-      Học viên nắm được các biểu hiện chính của rối loạn lo âu lan toả

Nội dung

1. Lo âu là gì?

“Lo âu” là từ được dùng để mô tả trạng thái đáp ứng của tâm thần và cơ thể đối với các tình huống gây sợ hãi và đe dọa. Phản ứng này bao gồm run, khó thở, tim đập nhanh, vã mồ hôi, cảm giác không thực…Lo âu là phản ứng bình thường của con người khi họ gặp phải các tình huống gây stress. Các ví dụ về các tình huống có thể làm con người lo âu là: suýt nữa bị tại nạn xe cộ, ngồi trong phòng thi, nói trước đám đông.

Rối loạn lo âu là tình trạng lo âu dai dẳng, lo âu về nhiều vấn đề khác nhau và điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Rối loạn lo âu lan tỏa là một rối loạn tâm thần phổ biến nhất, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mặc rối loạn lo âu hiện hành trong lứa tuổi từ 18 trở lên là 10% - 18%. Tại Mỹ, tỷ lệ mắc rối loạn lo âu lan tỏa trong cả đời người là 5,7%, trong đó tỷ lệ mắc ở nữ giới cao gấp đôi so với nam giới. Mặc dầu rối loạn lo âu lan tỏa gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng có đến 75% bệnh nhân phát bệnh trước 47 tuổi, tuổi trung bình phát bệnh là 31. Người ta cũng nhận thấy ở người lớn tuổi tỷ lệ bị rối loạn lo âu lan tỏa cũng tăng lên (7%).

Một người bị rối loạn lo âu không có nghĩa là họ bị yếu hoặc mất trí hoặc có vấn đề về nhân cách. Lo âu nặng là một rối loạn có thể vượt qua được bằng các phương pháp điều trị thích hợp.

2. Nguyên nhân hoặc các yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân của rối loạn lo âu lan tỏa chưa được biết rõ. Các nhà nghiên cứu cho thấy bệnh có thể liên quan đến các chất hoá học trong não thường gọi là các chất dẫn truyền thần kinh như  serotonin, GABA (gamma-aminobutyric acid) và norepinephrine. Tuy nhiên, nguyên nhân có thể là một sự phối hợp của những quá trình sinh học trong cơ thể, các yếu tố di truyền, môi trường sống, nhân cách. Nhiều bệnh nhân cho rằng những nỗi lo âu của họ bắt đầu từ thời thơ ấu, nhưng chúng cũng vẫn có thể xảy ra ở lúc trưởng thành.

Một số yếu tố tăng nguy cơ sinh bệnh:

§  Stress: Nhiều tình huống stress dồn dập trong cuộc sống có thể là khởi phát sự lo âu quá mức. Ví dụ stress do tan vỡ các mối quan hệ thân tình đi kèm với stress do bị mất việc và mất thu nhập là khởi đầu cho rối loạn lo âu lan tỏa.

§  Tuổi thơ bất hạnh: Trẻ có tuổi thơ bất hạnh và gặp nhiều nghịch cảnh, chứng kiến những hình ảnh gây tổn thương sẽ có nguy cơ mắc lo âu cao hơn.

§  Bệnh tật: Khi mắc phải bệnh nặng thường bệnh nhân sẽ hoang mang về sự tồn tại của mình và lo âu về tương lai, cách điều trị, chi phí có thể vượt quá khả năng chịu đựng.

§  Nhân cách: Một số dạng nhân cách nhất định dễ sinh rối loạn lo âu lan tỏa (chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở những chương sau). Ngoài ra, một số rối loạn nhân cách cũng đi kèm với rối loạn lo âu.

§  Di truyền: Một số bằng chứng cho thấy rối loạn lo âu lan tỏa có yếu tố di truyền khiến nhiều thành viên trong cùng một gia đình đều mắc phải rối loạn này.

3. Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu lan tỏa

Các biểu hiện lo âu thường chia thành bốn nhóm chính:

3.1. Cảm xúc (chúng ta có cảm xúc gì?)

Khi lo âu, người ta thường có cảm xúc lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, luôn cảnh giác. Nội dung lo âu thường đa dạng và bệnh nhân có nhiều nỗi lo khác nhau.

Mỗi khi bị lo âu như vậy, bệnh nhân không có khả năng để làm thuyên giảm đi nỗi lo âu của mình. Chính điều này làm bệnh nhân càng lo lắng thêm.

3.2. Tư duy (suy nghĩ gì đến trong đầu chúng ta?)

Khi lo âu, người ta thường chú tâm và suy nghĩ về những điều nguy hiểm có thật hoặc tiềm ẩn. Điều đó thường được thể hiện qua các kiểu sau:

- Những suy nghĩ, hình ảnh, ký ức gây sợ hãi

- Điều gì đó xấu xảy ra đối với bản thân (như cái chết, không có khả năng thích ứng, có trách nhiệm về sự việc tệ hại đã xảy ra).

- Điều gì đó tồi tệ xảy ra đối với những người khác (như người trong gia đình chết hoặc bị tai nạn).

- Có điều gì tồi tệ xảy ra (như cháy nhà, mất mát đồ đạc, tai nạn).

- Tăng cường chú ý đến những điều nguy hiểm có thể xảy ra.

- Luôn đề cập đến các triệu chứng bệnh tật của bản thân.

- Có những lúc đầu óc bệnh nhân trở nên trống rỗng, không có khả năng suy nghĩ đến bất kỳ vấn đề gì.

3.3. Hành vi (chúng ta đáp ứng như thế nào?)

-       Bồn chồn, kích thích, đứng ngồi không yên

-       Khả năng tập trung chú ý bị suy giảm: bệnh nhân không thể tập trung để làm vấn đề gì, ngay cả những công việc đơn giản đối với bản thân họ.

-       Lo âu gây ra một số các hành vi thích ứng. Khi gặp tác nhân gây lo âu, chúng ta thường nảy sinh các hành vi để loại bỏ điều nguy hiểm hoặc làm chúng ta cảm thấy an toàn. Các hành vi này bao gồm:

+     Tránh hoặc thoát khỏi các tình huống, trải nghiệm, nơi hoặc con người gây cho chúng ta cảm giác sợ hãi.

+     Cần một người làm chúng ta an tâm, có cảm giác an toàn.

+     Đi đến những nơi an toàn.

+     Sử dụng rượu, ma túy để giảm đi các biểu hiện lo âu.

3.4. Cơ thể

-       Nhịp tim nhanh, hồi hộp

-       Thở nhanh và nông

-       Vã mồ hôi

-       Đau bụng, buồn nôn

-       Dễ bị mệt mỏi, thấy mệt mỏi toàn thân

-       Căng cơ, đau đầu, chóng mặt

-       Rối loạn giấc ngủ: thường có biểu hiện mất ngủ đầu giấc, bệnh nhân có cảm giác buồn ngủ, nhưng không đi vào giấc ngủ được, mỗi khi ngủ luôn có các suy nghĩ lo âu xuất hiện.

4. Các phương pháp điều trị cho bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa

Có nhiều phương pháp để điều trị cho bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa tùy theo mức độ rối loạn, các bệnh kết hợp và sự lựa chọn của bệnh nhân Trong khuôn khổ của mô hình này, tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu sẽ áp dụng những phương pháp sau để quản lý rối loạn lo âu lan tỏa:

-       Giáo dục tâm lý

-       Thư giãn (Quản lý nhịp thở)

-       Liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý (Thay đổi suy nghĩ)

-       Điều trị bằng thuốc

Những trường hợp sau sẽ phải chuyển đến bệnh viện chuyên khoa:

-       Nghiện chất: rượu, ma túy

-       Tiền sử có giai đoạn loạn thần.

-       Có các bệnh cơ thể nặng nề kết hợp.

-       Không đáp ứng điều trị sau 6 tuần điều trị (điều trị tại trạm y tế nhưng không thuyên giảm)

-       Các tác dụng không mong muốn của thuốc nặng nề, ảnh hưởng nhiều đến chức năng cuộc sống.

 

 

Hình ảnh
Liên kết website
Liên hệ
BỆNH VIỆN TÂM THẦN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Địa chỉ  : 193 Nguyễn Lương Bằng, P.Hòa Khánh Bắc, Q.Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, Việt Nam

Số điện thoại:
 0511.3.842.326

Email: tutrung.lttrungdn@gmail.com